12 tháng 8, 2011

HƯỚNG DẪN SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ CHỦ TRÌ THẢO LUẬN

ThS. Võ Nguyễn Hồng Lam -

1. Đặt vấn đề:
Để nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc đại học, ngoài việc nâng cao kiến thức, mỗi giáo viên cần phải làm là đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học có nghĩa là tăng thêm tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập, sinh viên phải được xem là trung tâm của quá trình đào tạo. Với các môn học bằng Tiếng Anh của khối chuyên ngữ, sinh viên cần được tạo cơ hội để thực hành nhiều. Các em học Tiếng Anh là học cách sử dụng Tiếng Anh (performance in English) chứ không chỉ là kiến thức về Tiếng Anh (knowledge about English). Chính vì lẽ đó, càng được thực hành nhiều, các em càng phát triển được các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ. Một trong những biện pháp bản thân đã áp dụng để nâng cao tính chủ động của sinh viên là hướng dẫn sinh viên chủ trì thảo luận trong giờ học môn nói 4 (speaking 4).

2. Nội dung
2.1. Tại sao sinh viên nên chủ trì thảo luận? (sinh viên chủ trì theo nhóm)
2.1.1. Tăng tính chủ động của sinh viên (active learner)
Để chủ trì thảo luận, đòi hỏi mỗi sinh viên phải chuẩn bị rất nhiều trước khi đến lớp. Thay vì trông chờ vào các hoạt động do giáo viên đưa ra, bây giờ sinh viên phải tự tìm tòi, sáng tạo để thiết kế các hoạt động thú vị. Thông qua việc thiết kế các hoạt động, sinh viên học được thêm rất nhiều từ vựng và các cấu trúc khác nhau. Ngoài ra, các em còn phải luyện tập rất nhiều lần ở nhà trước khi chủ trì ở trên lớp, đặc biệt là cách phát âm. Đứng trước đám đông, các em phải chú ý nhiều hơn đến cách diễn ngôn của mình, diển ngôn phải rõ ràng, mạch lạc mới thu hút được người nghe. Nói trước đám đông cũng là cách các em tập tính mạnh dạn của mình.
2.1.2. Sinh viên học cách tổ chức (organization)
Để có thể dẫn dắt và duy trì thảo luận một cách hiệu quả, sinh viên cần học cách sắp xếp, tổ chức để các hoạt động diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp. Đây cũng là cơ hội để các em học cách tổ chức và phân chia công việc, học các thao tác để chủ trì thảo luận và học cách tính toán thời gian cho mỗi hoạt động một cách hợp lý.
2.1.3. Sinh viên học cách chủ trì trước đám đông (leading ability)
Ngồi ở dưới lớp và thực hiện các hoạt động do giáo viên đưa ra, sinh viên ít có cơ hội thể hiện mình. Nhờ vào việc chủ trì thảo luận, tức là sinh viên thực hiện thao tác của một giáo viên, các em có cơ hội để thể hiện bản thân, xử lý các tình huống.
2.1.4. Tăng tính hợp tác giữa các sinh viên (cooperative working)
Do không có đủ thời gian để mỗi sinh viên thực hành, giáo viên thường phân công một nhóm sinh viên chủ trì thảo luận. Với hoạt động nhóm, sinh viên phải học cách cân đối công việc giữa các thành viên của nhóm, tránh để tình trạng người làm việc quá nhiều, người làm việc quá ít. Ngoài ra các thành viên trong nhóm phải giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt công việc. Thông qua hoạt động nhóm, sinh viên giỏi tạo điều kiện giúp đỡ sinh viên kém hơn. Ngược lại sinh viên kém hơn có cơ hội học hỏi sinh viên giỏi. Tỉ lệ hoạt đông nhóm được đánh giá là 65%, chính vì thế các em phải học cách phối hợp làm việc nhịp nhàng, ăn ý với nhau.
2.1.5. Tăng tính cạnh tranh giữa các nhóm sinh viên (competitiveness)
Bằng cách cho điểm cộng nhóm chủ trì thảo luận hay nhất đã khuyến khích sinh viên làm việc tích cực hơn. Sinh viên cũng được tham gia vào công việc đánh giá này, nhưng giáo viên khống chế tỉ lệ phần trăm: 50% là do giáo viên đánh giá, 50% là do sinh viên đánh giá. Với cách thức này, mỗi thành viên của nhóm phải nỗ lực rất lớn để giành được điểm cộng cho cả nhóm.
2.1.6. Sinh viên học cách đánh giá lẫn nhau (peer evaluation)
Sau mỗi lần nhóm sinh viên chủ trì thảo luận hoàn tất công việc của mình, giáo viên dành khoảng 15 phút để các sinh viên ngồi dưới lớp nhận xét, đánh giá sinh viên chủ trì. Giáo viên khuyến khích sinh viên nhận xét để giúp nhau tiến bộ. Đưa ra lời nhận xét cũng là cách chứng tỏ sinh viên ngồi dưới lớp chăm chú, tham gia tích cực vào các hoạt động trên lớp.
Ngoài ra, nhờ vào hoạt động sinh viên chủ trì thảo luận, các em có cơ hội tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau do các nhóm sinh viên khác nhau thiết kế, chủ trì. Như vậy sinh viên cảm thấy hứng thú hơn trong giờ học.
2.2. Tiến trình thực hiện
2.2.1. Phân nhóm
Đầu học kỳ, sinh viên được khuyến khích tự tìm nhóm học tập (3 sinh viên/nhóm). Các nhóm nộp danh sách cho lớp trưởng, lớp trưởng tổng hợp gởi danh nhóm của cả lớp cho giáo viên. Giáo viên xem xét, hỏi ý kiến ban cán sự lớp để điều chỉnh lại các thành viên trong nhóm (nếu cần thiết), tránh tình trạng nhóm chỉ có sinh viên giỏi, hoặc nhóm chỉ có sinh viên kém; đồng thời giáo viên cũng cân đối lại số lượng nam nữ trong nhóm, tránh tình trạng nhóm chỉ có các sinh viên nam.
2.2.2. Phân công việc
Sau khi phân công nhóm và nhóm trưởng, giáo viên phân công công việc cụ thể cho mỗi nhóm, đồng thời khống chế thời gian cho hoạt động nhóm. Ví dụ: nhóm 1 sẽ chủ trì các hoạt động trong bài 3, nhóm 2 sẽ chủ trì các hoạt động trong bài 4…Tuy nhiên, sinh viên được khuyến khích chủ động đưa vào những hoạt động khác có liên quan đến chủ đề của bài học chứ không nhất thiết phải bám hoàn toàn vào các hoạt động trong sách giáo khoa.
2.2.3. Hướng dẫn
Để chủ trì thảo luận, giáo viên phải làm mẫu nhiều lần. Sinh viên phải quan sát cách thức giáo viên chủ trì thảo luận. Thông qua việc làm mẫu cho sinh viên, giáo viên hướng dẫn sinh viên cách thức chủ trì thảo luận; đồng thời cũng đưa ra tiêu chí đánh giá để sinh viên có cơ sở thực hiện các thao tác. Các em cũng được khuyến khích đưa ra những nhận xét, ý kiến đóng góp khác. Sau đây là những tiêu chí đánh giá hoạt động sinh viên chủ trì thảo luận:
Group work (65%)
1. Introduction (giới thiệu): 5%
2. Leading ability (khả năng chủ trì): 15%
3. Organization (tổ chức): 10%
4. Activities (hoạt động): 10%
5. Cooperative working (hợp tác): 15%
6. Quick response (trả lời câu hỏi): 10%
Individual work (35%)
7. Language use: 15%
8. Pronunciation: 20% (including: volume 5%, letter sound 5%, stress 5%, intonation 5%)
2.2.4. Yêu cầu đối với nhóm chủ trì
Chậm nhất là 10 ngày trước khi chủ trì thảo luận, sinh viên phải nộp sườn bài (outline) cho giáo viên qua email. Giáo viên xem xét outline và đưa ra lời nhận xét. Một khi outline đã được chấp nhận, các em phải chuẩn bị powerpoint cho phần nội dung và phải tập luyện nhiều lần trước khi chủ trì trước đám đông. Nếu sinh viên cần trợ giúp thêm, giáo viên sẽ dành khoảng 30 phút (ngoài giờ học) để cố vấn cho mỗi nhóm.
Khi chủ trì thảo luận trước lớp, các thành viên trong nhóm hoàn toàn chủ động dẫn dắt các hoạt động mà không có sự can thiệp của giáo viên. Giáo viên ngồi dự giờ, theo dõi và đánh giá công việc của các nhóm. Giáo viên yêu cầu sinh viên chủ trì phải tìm cáí mới (cấu trúc câu, từ vựng, chủ đề, nội dung) cho phần thảo luận để sinh viên tham dự lớp học hỏi nhiều hơn.
2.2.5. Yêu cầu đối với sinh viên tham dự lớp học
Sinh viên tham dự lớp học phải xem vai trò của nhóm chủ trì thảo luận như là giáo viên và phải tuân thủ mọi yêu cầu do nhóm sinh viên chủ trì thảo luận đưa ra. Kết thúc buổi thảo luận, sinh viên tham dự phải có ý kiến nhận xét cho nhóm sinh viên chủ trì. Ý kiến đóng góp của các em cũng được đánh giá vào kết quả môn học. Ngoài ra, các em được tham gia đánh giá và đặt câu hỏi đối với nhóm chủ trì thảo luận.
2.3. Phạm vi áp dụng
Cho đến nay bản thân đã áp dụng phương pháp này cho 4 khóa, tổng cộng 6 lớp: 48TA1 &2, 49 TA, 50TA1 &2, 51TA.
Đối tượng: sinh viên chuyên ngữ năm thứ 2 (HK2)
Học phần áp dụng: nói 4 (speaking 4)
Với K48, bản thân dạy cùng (team-teach )với 1 giáo viên tình nguyện (thầy Stephen- giáo viên tình nguyện của tổ chức VIA); K49 & K50, K51 bản thân dạy một mình.
2.4. Kết quả đạt được
Kết thúc môn học, giáo viên phát phiếu thăm dò ý kiến sinh viên về hoạt động “sinh viên chủ trì thảo luận”, gần 90% sinh viên rất hài lòng với hoạt động này. Ngoài ra, các em còn có nhiều nhận xét tích cực khác, ví dụ:
- Các em có cơ hội sử dụng ngôn ngữ trước đám đông.
- Các em học được cách hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.
- Các em được tham gia vào những hoạt động mới, thú vị
- Các em bắt buộc phải tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau.
- Các em được xây dựng, đóng góp ý kiến cho nhau.
Thông qua hoạt hoạt động sinh viên chủ trì thảo luận, giáo viên cũng phát hiện được nhiều sinh viên rất có khả năng lãnh đạo. Nhiều nhóm sinh viên rất sáng tạo trong việc thiết kế các hoạt động, trong đó có nhiều hoạt động rất thú vị, có tính giáo dục cao. Nhiều em sinh viên rất tự tin trước đám đông.
2.5. Một số hạn chế
Phía sinh viên: vì phải làm việc theo nhóm nên sinh viên tốn rất nhiều thời gian họp nhóm để thảo luận công việc. Đôi khi trong quá trình thảo luận, các thành viên trong nhóm không thống nhất ý kiến của nhau dẫn đến mâu thuẫn. Cũng có tình trạng sinh viên kém ngại đưa ra ý tưởng của mình mà trông chờ vào sự dẫn dắt của sinh viên giỏi hơn.
Phía giáo viên: giáo viên rất tốn thời gian làm việc với từng nhóm: xem outline, đưa ra ý kiến nhận xét. Một số nhóm, giáo viên phải sửa outline nhiều lần. Thậm chí 1 số nhóm còn yêu cầu giáo viên xem các em thao tác tthử trước khi chủ trì thực sự.
Cả sinh viên và giáo viên đều mong sinh viên có cơ hội thực hành nhiều hơn nhưng thời lượng có hạn nên các nhóm chỉ có thời gian thực hành 1 lần cho hoạt động này.

3. Kết luận
Áp dụng phương pháp này, sinh viên phải chủ động làm việc với sự giúp đỡ của giáo viên. Phương pháp này tạo cho sinh viên cơ hội sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn, các em thực sự là trung tâm của quá trình đào tạo. Phương pháp này cũng làm thay đổi thái độ học tập của sinh viên: tăng thời lượng thực hành của sinh viên và giảm thời lượng làm việc của giáo viên ở trên lớp. Ngoài ra sinh viên còn học được cách làm việc theo nhóm, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Đây cũng là những yếu tố rất cần thiết trang bị cho các em trước khi đi làm.

Tài liệu tham khảo:1. Comfort, Jeremy. (1997). Effective presentations. Oxford University Press.
2. Kushner, Malcolm. (2004). Presentations for Dummies. Wiley Publishing, Inc.
3. Lê Văn Hảo. (2010). Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá. Phòng ĐBCL Đào tạo và Khảo thí Trường ĐH Nha Trang (tài liệu lưu hành nội bộ).
The English version of the article...

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu hoặc tiếng Anh, và dùng từ ngữ lịch sự, xưng hô đúng mực. Các lời bình không đủ các chuẩn trên sẽ bị xóa khi kiểm duyệt. Cảm ơn quý khách đã truy cập website Khoa Ngoại Ngữ Đại học Nha Trang.